Ngày cách mạng tháng 8 thành công năm 1945 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngày cách mạng tháng 8 thành công đã lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Sự kiện này không chỉ là niềm tự hào của người dân Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng cho các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đầu năm 1945, tình hình quốc tế có nhiều chuyển biến mau lẹ, chiến tranh thế giới thứ Hai đến hồi kết thúc. Ngày 13/8/1945, phát xít Nhật đã hoàn toàn tan rã và xin đầu hàng quân Đồng minh. Ở trong nước, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển rộng khắp, cùng với đó, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, “cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới. Tình thế vô cùng khẩn cấp… Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê. Thành lập Ủy ban nhân dân ở những nơi ta làm chủ”(1).
Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp tại Tân trào từ ngày 13-16/8/1945 và quyết định khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ủy ban Kkhởi nghĩa được thành lập với nhiệm vụ quan trọng là lãnh đạo cuộc khởi nghĩa toàn quốc cho đến toàn thắng. Vào 23 giờ đêm ngày 13/8/1945, Uỷ ban Kkhởi nghĩa đã ra Quân lệnh số 1:
“... Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh!
Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà.
Mang nhiệm vụ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa toàn quốc cho đến toàn thắng,
Uỷ ban khởi nghĩa đã thành lập"(2).
Ngày 14/8/1945, Tổng bộ Việt Minh đã ra “Hiệu triệu của Tổng bộ Việt Minh” kêu gọi tổng khởi nghĩa, giành độc lập:
“Hỡi quốc dân đồng bào!
Hỡi các đoàn thể cứu quốc!
Phát xít Nhật đã gục đầu hàng phục Anh, Mỹ, Nga, Tàu. Quân Đồng minh sắp tràn vào Đông Dương. Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Dân tộc ta đã đến lúc vùng dậy cướp lại quyền độc lập của mình!”(3)
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước: “giờ quyết định vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng lên đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(4).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng ở các địa phương diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia và trở thành làn sóng đấu tranh giành chính quyền ở khắp nơi.
Ngày 19/8, Hà Nội giành chính quyền. Tiếp theo Hà Nội và các tỉnh, ngày 23/8, Huế giành được chính quyền, ngày 25/8, Sài Gòn giành được chính quyền, ngày 28/8, Đồng Nai Thượng và Hà Tiên là địa phương cuối cùng trong cả nước giành được chính quyền.
Ngày 28/8/1945, đứng trước yêu cầu cấp bách cần phải sớm ổn định tình hình, củng cố chính quyền cách mạng, biến chính quyền đó thành công cụ đắc lực cho việc củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ thành quả Cách mạng vừa giành được và để có cơ sở trong việc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ tiến bộ. “Nhiệm vụ của Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam hết sức nặng nề. Làm sao cho Chính phủ Lâm thời tiêu biểu được Mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ. Bởi vậy, tuân theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho. Chính phủ Lâm thời không phải là Chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một Chính phủ chỉ bao gồm các đại biểu của các chính đảng. Thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc.”(5)
Ngày 30/8/1945, trước sự chứng kiến của hàng vạn đồng bào Thừa Thiên - Huế, Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị và giao nộp ấn, kiếm cho Chính phủ Lâm thời. Trong Tuyên bố thoái vị, Hoàng đế Bảo Đại đã nêu rõ: “Hạnh phúc của dân Việt Nam, độc lập của nước Việt Nam, muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã tuyên bố Trẫm sẵn sàng hy sinh tất cả mọi phương diện và cũng vì mục đích ấy, nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có bổ ích cho Tổ quốc. Xét thấy điều bổ ích cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết của toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng trong giờ nghiêm trọng này đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết, nay thấy nhiệt vong dân chủ của quốc dân Bắc Bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi quốc hội thì không thể nào tránh được nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân, lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng, cho nên mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ tới công lao liệt thành vào sinh ra tử trong gần 400 năm, mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hoá đến Hà Tiên, mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong 20 năm trời mới gần gũi dân được mấy tháng, chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị, để nhượng quyền điều khiển quốc dân lại cho một Chính Phủ dân chủ cộng hoà”… “Trẫm trong 20 năm ngai vàng bể ngọc đã biết bao ngậm đắng nuối cay. Từ nay Trẫm lấy làm vui mừng được làm dân tự do của một nước độc lập, chứ Trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của hoàng gia mà lung lạc dân chúng.”(6)
Ngày 2/9/1945, “Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ, đèn và hoa. Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ những rặng cây, đỏ những mặt hồ.”(7) Tại Quảng trường Ba Đình, trước cuộc mít tinh khổng lồ của hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với thế giới và toàn thể quốc dân đồng bào về nền độc lập của dân tộc Việt Nam và sự thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”(8)

Cách mạng Tháng Tám thành công, nền thống trị, áp bức của đế quốc Pháp, Nhật hơn 80 năm và chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại hàng nghìn năm đã bị lật đổ hoàn toàn. Chính quyền thực sự thuộc về nhân dân. “Theo lòng dân, Chính phủ Lâm thời đã lên cầm quyền chính. Nhà vua cũng đã vui lòng thoái vị, nhường quyền cho chính phủ mới. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã thành lập. Bao nhiêu xiềng xích vừa được cởi mở. Toàn quốc đồng bào đang sống những ngày tưng bừng vui sướng, những ngày tự do đầu tiên từ khi Pháp chiếm nước ta”(9).
Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Việt Nam, là một trong những trang chói lọi nhất trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam, là thắng lợi vĩ đại đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng, mở ra bước ngoặt vĩ đại - một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám đã “đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”(10). Cùng với đó, Cách mạng Tháng Tám thành công còn là nguồn lực cổ vũ mạnh mẽ đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới. “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(11).
78 năm trôi qua, tầm vóc lịch sử và ý nghĩa to lớn cùng những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở, nền tảng vững chắc trên con đường bước tới đài vinh quang của dân tộc Việt Nam. Ôn lại thời khắc lịch sử trọng đại của dân tộc đồng thời khẳng định niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng đất nước.
Chú thích:
1/ Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, NXBCTQG, H, 2000, tr 425.
2/ Quân lệnh số 1 ngày 13/8/1945 của Ủy ban Khởi nghĩa kêu gọi quân dân toàn quốc khởi nghĩa giành chính quyền, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Tài liệu sưu tầm, hồ sơ 256, tờ 02.
3/ Hiệu triệu của Tổng Bộ Việt Minh phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 14/8/1945, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Tài liệu sưu tầm, hồ sơ 256, tờ 09.
4/ Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H, 1995, tập 3, tr 554.
5/ Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Việt Nam Dân quốc Công báo, năm thứ 1, số 1, ngày 29/9/1945, tr 2.
6/ Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 589.
7/ Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, NXB Văn học, 1977, tr 242.
8/ Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 589, Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2/9/1945, tờ 03.
9/ Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Tài liệu sưu tầm, hồ sơ 257, Lời hô hào quốc dân của Tổng bộ Việt Minh trong Ngày Độc lập, tờ 01.
10/ Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H, 1995, tập 7, tr 26,27.
11/ Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H, 1995, tập 7, tr 25.